ĐỨc phẬt trong cái nhìn cỦa các nhà khoa hỌc

Thảo luận trong 'Cảm nhận cuộc sống' bắt đầu bởi kimngoc87, 4/12/09.

  1. kimngoc87 Thành viên

    ĐỨC PHẬT TRONG CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC.


    "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein].



    1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật :


    Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức].

    Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan].

    Ðiều đáng chú ý nhất nơi đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"].

    Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình.

    Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells].

    Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gủi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống. [- Giám mục Milman].

    2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật

    Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"].

    Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các "Thần linh và Người". Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của đức Phật"].

    Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis].

    Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức].

    Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". [Anatole France].

    Sự khác biệt giữa đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí. [- Một Văn Hào].

    Nếu chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải vị trí một hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên không thay đổi, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của một hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời "không". Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi tình trạng bản ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18. [J.Robert Oppenheimer].

    Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của đức Phật. [- Tổng thống Nehru].

    3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại:


    Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông diệp của đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông diệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng thống Nehru].

    Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý giá trị trường cữu và thúc đẩy đạo đức tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn độ mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy có trên hoàn vũ. [Albert Schweizer, một nhà lãnh đạo triết học Tây Phương].

    Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả sinh vật đã được dạy dỗ bởi đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng có thể chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng thiện cảm. [- Tiến Sĩ Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"].

    Ðức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài. [- Một học giả Hồi Giáo].

    Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan,"Ðức Phật Cồ Ðàm"].

    Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn. [- Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"].

    4. Giáo pháp của Đức Phật:

    Ðọc một chút về Phật giáo là đã biết rằng hai ngàn năm trăm trước đây, người Phật giáo đã hiểu rõ xa hơn và đã được thừa nhận về những vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta. Họ đã nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy câu trả lời. [- Tiến Sĩ Graham Howe].

    Phật giáo chưa bao giờ ép ai theo dù dưới hình thức nào - hoặc ép buộc ý tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, hầu đoạt được thắng lợi để gia nhập vào quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ thi đua để dành người quy nạp vào Ðạo như nơi chợ búa. [- Tiến sĩ G. P. Malasekara].

    Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến sức mạnh và tiền bạc hay cả đến sự chinh phục để tác động mọi người vào đạo thì sao? Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định nếu muốn theo tôn giáo này. [- Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh Hoa của Phật giáo"].

    Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo bắt nguồn trên những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi. [- Gertrude Garatt].

    Mặc dù người ta có thể được thu hút từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt của tôn giáo này nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của Phật giáo khi người ta phán xét kết quả tạo ra của tôn giáo này thông qua đời sống của chính mình từ ngày này qua ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward Conze, Một học Giả Phật giáo Tây Phương].

    Phật giáo là một tôn giáo tự giác, ít lễ nghi. Một hành động được thực thi với chính sự suy tư thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một nghi lễ. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy. [- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm lý và Triết lý Phật giáo"].

    Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó. [Giáo sư Rhys Davids].

    Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của Ðức Cồ Ðàm được phục hưng và thuần khiết, có thể chiếm một vị trí phần lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. [- H.G.Well].

    Lý thuyết của Phật pháp vẫn đứng vững ngày nay không bị ảnh hưởng bởi tiến trình của thời gian và sự tăng trưởng kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu bầy tỏ. Dù cho kiến thức khoa học tăng tiến đến thế nào trên chân trời trí óc của con người, trong phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng hóa các khám phá xa hơn nữa. Về phương diện thu hút của lý thuyết nầy không dựa vào các khái niệm giới hạn của các tư tưởng sơ khai, về phương diện khả năng cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng. [- Francis Story, "Phật giáo, Một Tôn Giáo Thế Giới"].

    Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe. [- Một Văn Hào Tây Phương"].

    "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học".

    "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein].


    nguồn: http://phatgiaovnn.com
    -------------*****-------------
    Phật ở đâu xa Phật ở lòng
    Cõi lòng thanh tịnh tợ hư không
    Mùi hương phảng phất sen thơm ngát
    Át cả bùn nhơ chốn bụi hồng.
    Candy thích bài này.
  2. danafilm2009 Thành viên

    Cám ơn Đức Phật

    CÁM ƠN ĐỨC PHẬT

    Tôi là người thờ phượng Thiên Chúa và góp phần rao truyền tin lành (good news) của Thiên Chúa đến mọi người theo lời dạy của Chúa Giê-xu: "Hãy đi khắp thế gian, giảng tin lành cho mọi người" (Mác 16:15) mà tôi lại nói rằng "cảm ơn Đức Phật" thì người nghe có thể nghĩ rằng tôi không thật lòng, hay có ý mỉa mai, nếu người đó không cho tôi cơ hội nói ra lý do đặc biệt của nó.

    Câu chuyện được bắt đầu lúc tôi còn là một cậu bé mới lên mười, may mắn gặp dịp một đoàn xe (tôi nghĩ là của những Phật tử) chiếu cho xem về sự tích "Phật Thích Ca Thành Đạo". Dù gần bốn mươi năm trôi qua, nhưng hình ảnh chàng Thái Tử Si-đạt-ta (Siddhartha) của xứ Ấn Độ, rời bỏ cung vàng, điện ngọc, rời bỏ cuộc sống nhung lụa ấm êm; đặc biệt là bỏ lại sau lưng người vợ đẹp, để đi tìm chân lý giải phóng nhân loại thoát khỏi cảnh sanh, lão, bệnh, tử... đã khiến tôi vô cùng cảm phục và mãi sau nầy lúc tôi lớn khôn, đã trở thành con cái Chúa mà thỉnh thoảng nhớ đến, tôi vẫn còn cảm thấy sự cảm xúc dâng tràn trong lòng, và trân quý sự hy sinh, lòng từ bi mà Thái Tử Si-đạt-ta đã dành cho chúng sanh.

    Căn cứ vào truyện phim mà tôi được xem qua, thì phải công nhận rằng đường tu của Đức Phật rất gian nan. Khởi đầu, Thái tử Si-đạt-ta đã thí nghiệm đường tu bằng cách ép xác trong mấy năm liên tục nhưng không kết quả. Ngài nhận ra rằng con đường khổ hạnh không phải là con đường cứu khổ mà chính Ngài đã từng mong mỏi, nên Ngài đã từ bỏ cách tu nầy và trở về lẽ thông thường. Ngài xuống suối tắm rửa cho thân thể được sạch sẽ, nhẹ nhàng, uống bát sửa của một nàng thôn nữ bố thí và dần dần lấy lại sức khoẻ. (Đây có thể nói là một cuộc cách mạng trong đường tu của Ngài, vì lúc bấy giờ những bạn đồng tu đã xa lánh Ngài, vì họ cho rằng Ngài đã sa ngả) Sau đó Ngài đến gốc cây bồ đề ngồi tịnh thiền và thề sẽ không rời nơi đó nếu chưa ngộ đạo... Và kết quả Ngài đã đắc đạo để vào Niết Bàn theo tài liệu trong phim.

    Đức Phật đã dạy những gì thì hầu hết các Phật Tử và những ai từng tìm hiểu giáo lý Phật Giáo đã biết rõ. Một cách tổng quát, Đức Phật dạy chúng sanh là phải diệt cho được "tham, sân, si" và "hỉ, nộ, ái, ố" để có thể đắc đạo vào được Niết Bàn như Ngài đã thành công. Nếu kiếp nầy tu không xong thì phải tiếp tục tu ở kiếp sau v.v...Trong quyển "Lời Phật Dạy" của tác giả Đinh Sĩ Trang, có ghi lại một câu của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú như sau: "Chính tự các người phải cố gắng kiên trì tu tập. Như Lai chỉ là người thầy chỉ rõ con đường giác ngộ cho các người, chứ không giác ngộ giùm ai được." (trang 130, câu 276).

    Tôi có một người bạn vong niên rất thân. Lúc sinh tiền, anh là một Phật Tử thuần hành, chúng tôi thường trao đổi với nhau về tôn giáo. Anh kể tôi nghe những lời Phật dạy, và tôi cũng chia xẻ với anh những gì Chúa dạy. Dù không cùng niềm tin tôn giáo, nhưng chúng tôi thân nhau như anh em trong nhà, như người cùng đức tin. Anh nói với tôi rằng: "Chú có phước, chú gặp Chúa; tôi có duyên, tôi gặp Phật". Và anh cũng cho tôi biết là anh và vợ con quyết làm theo những gì Phật dạy để được cứu, vì Đức Phật có cho biết rằng: "Phật chỉ là đấng chỉ đường dẫn lối, Phật không có quyền ban phước, hay giáng hoạ cho bất cứ mt ai...". Và anh đã trân trọng tặng cho tôi một quyển sách nhỏ "Ba Vấn Đề Trọng Đại Trong Đời Tu Của Tôi", của Thiền Sư Thích Thanh Từ, như là mt hình thức chứng minh những gì anh nói là thật. Quả đúng như vậy, trong trang 17 có một đoạn Thiền Sư Thích Thanh Từ viết như sau: "Cho đến cái khổ đau và an vui của con người, Đạo Phật nói rõ đều do con người tự do tạo lấy. Phật không có quyền can thiệp khổ vui của con người. Ngài chỉ là người hướng dẫn chỉ đường cho những ai muốn tránh khổ tìm vui, mọi khổ vui đều do cho người quyết định..."

    Thật ra đây không phải là lần đầu tiên tôi biết việc nầy. Chính vì biết rõ lời khẳng định của Đức Phật, và biết được sự yếu kém của chính mình. Tôi biết rõ con người thật của tôi không thể nào diệt nổi "tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố" nên tôi đã mạnh dạn tiếp nhận Chúa Giê-xu làm cứu Chúa của mình, và thầm cảm ơn Đức Phật đã soi sáng cho tôi chân lý đó, cũng như sự hy sinh cao cả của Chúa Giê-xu trên thập tự giá để chết thay cho con người tội lỗi trong trần gian, và trong số người tội lỗi đó có chính tôi (đây chỉ là sự cảm nhận về ơn cứ rổi mà Chúa Giê-xu dành cho những ai tin vào lời Thánh Kinh). Nếu ai có dịp tìm hiểu Thánh Kinh thì chắc cũng biết Chúa Giê-xu có phán rằng: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai đến được cùng Cha" Giăng 14:6, và tôi cũng từng tin tưởng và kinh nghiệm về ơn phước Chúa ban qua lời hứa nầy: "Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy" (Giăng 7:38). Nếu ai muốn tìm hiểu để biết Kinh Thánh đã nói những gì, tôi xin mách trước rằng, trong đó có cho biết: "Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác: vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." (Công-vụ: 4:12)

    Tại sao tôi đầu phục, tiếp nhận Chúa? Chuyện cũng khá dài dòng, nhưng trước tiên tôi muốn mời quý độc giả nghe tôi kể một cách ngắn gọn việc trước khi tiếp nhận Chúa tôi đã bài bác Thiên Chúa Giáo nói chung và đạo Tin Lành nói riêng như thế nào?

    Là một người từ thuở nhỏ đã được cha mẹ dạy dỗ là phải nhớ ơn tổ tiên, ông bà, làm lành, lánh dữ; phải giữ cho tâm mình được thanh sạch, không dối trá, hại người v.v... và tôi rất tự hào về những điều mình được dạy dỗ, những gì cha mẹ mình đã truyền đạt lại cho mình. Chính vì đó, tôi đã nhiều lần gác bỏ ngoài tai những gì người khác nói cho tôi nghe về sự cứu rỗi của Chúa. Tôi ghét và chống đạo Chúa gần giống như người ta chống kẻ thù. Tuy nhiên tôi không làm hại gì được đạo Chúa, bởi lẽ tôi không có quyền lực trong tay như nhà cầm quyền việt cộng tại VN ngày nay. Khi nhắc đến việc nầy tôi cũng nhớ chuyện của hơn 30 năm về trước, tôi từng góp phần đắc lực để thuyết phục má tôi và các anh chị tôi mang cô em gái út của tôi lập tức ra khỏi trường Tin Lành, dù em tôi là một học trò rất ngoan và trường em tôi học, có phương cách hướng dẫn học sinh rất tốt... Tôi chống đạo Tin Lành là vì nó không phải là đạo mà ba má tôi dạy tôi phải theo. Tôi ghét đạo Tin Lành là vì đối với tôi, đạo nầy chỉ dành cho người Hoa Kỳ, hay của người ngoại quốc. Theo đạo nầy (tin vào sự cứu rỗi của Chúa) tức là tôi bất hiếu với ông bà, cha mẹ, đắc tội với tổ tiên, mà không cần tìm hiểu, để biết Chúa đã dạy những gì trong Thánh Kinh? Mặt khác, có lẽ hồi còn nhỏ, tôi từng nghe lời một số người quá khích, bằng cách tiếp tay đồn đãi một số điều tiêu cực, như chuyện tiếu lâm, những câu vè có tính cách châm biếm, để xuyên tạc về Thiên Chúa Giáo một cách vô tội vạ, và có những mẩu truyện thật kinh khủng mà sau nầy khi lớn khôn hơn, ngay thời gian trước khi tiếp nhận Chúa Giê-xu làm cứu Chúa cho mình, tôi bắt đầu để tâm suy luận và đã nhận thấy nó thật vô lý và đầy dẫy những điều mà tôi cho là lộng ngôn, khiến tôi phải rùng mình mỗi khi nhớ đến.

    Hơn hai mươi năm trước đây, do sự tình cờ tôi được một người bạn Tin Lành tặng tôi quyển Kinh Thánh, và tôi đã đọc vì đang trong thời điểm "đói sách", nhờ đó mà tôi bắt gặp một số lời dạy quý báu của Chúa, nhưng vì trước đó tôi có thành kiến với Thiên Chúa Giáo nên tôi không thèm để ý đến. Ngoài ra, do gương sống đạo của một số mục sư và tín đồ Tin Lành mà tôi có dịp biết qua; cao điểm là khi quyền năng của Chúa đã đụng vào tấm lòng vở nát của tôi bằng câu Kinh Thánh: "Hởi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu, và gánh ta nhẹ nhàng". (Ma-thi-ơ 11:28-30)

    Vì tôi có cơ hội tìm hiểu phần nào giáo lý Phật Giáo nên đến ngày nay tôi vẫn còn nhớ nằm lòng những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú, như sau: "Thắng lợi thì bị oán thù, thất bại thì bị đao khổ. Kẻ nào không màn tới thắng bại, kẻ ấy sẽ sống một đời hoà hiếu an vui..." Lời dạy nầy cũng khá gần gũi trong Kinh Thánh của Cơ Đốc Giáo: "Chớ lấy ác trả ác cho ai, phải chăm làm điều thiện trước mặt mọi người. Nếu có thể được thì hãy hết sức mình mà hoà thuận với mọi người.... Chớ trả thù ai, những hãy nhường cho cơn thạnh n của Đức Chúa trời..." (Rô-ma 12:17-19). (Có lẽ chúng ta sẽ không nhầm lẫn giữa vấn đề tranh giành thắng lợi, và hành động đòi hỏi sự công bằng cho người khác, hoặc góp phần ngăn cản không cho tội ác hoành hành... Đã nói đến điều nầy thì cũng xin cho phép tôi "lạc đề" một chút rằng: "Tội ác ở đâu cũng là tội ác; tội ác đang xảy ra tại VN ngày nay hay tội ác tại các nơi khác trên thế giới đều giống nhau..." Chính vì thế mà cũng trong Kinh Thánh Tân Ước, sách Rô-ma 13, có dạy là: "sợ kẻ mình đáng sợ, kính kẻ mình đáng kính...", chứ Kinh Thánh không dạy con người đi đầu phục một đảng cướp hay nhu nhược trước những kẻ khinh thường Thiên Chúa và vì cho rằng đó là hành động "nhu mì, khiêm nhường" mà Chúa đã dạy.)

    Sau khi tiếp nhận Chúa, tôi có dịp đọc Kinh Thánh kỹ hơn, và điều lý thú là trước đó tôi thấy trong Kinh U-Da-Na-Vác-Ga của Phật Giáo có chép: "Đừng làm tổn thương kẻ khác theo những lối mà chính mình thấy là dễ gây tổn thương", thì tôi cũng tìm thấy trong Kinh Thánh Tân Ước Chúa Giê-xu cũng có phán như sau: "Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri." (Ma-thi-ơ 7:12)

    Cũng có những người "tin Chúa" từ lúc mới lọt lòng mẹ, vì họ may mắn có cha mẹ đã tiếp nhận Chúa rồi, hoặc cũng có người tin Chúa nhưng chưa bao giờ có cơ hội đọc những lời dạy của Đức Phật, nên không tỏ quan tâm, hoặc tìm cách bài bác những điều dù chính mình không biết chắc là đúng hay sai? Riêng tôi, vì có cơ hội tìm hiểu giáo lý của Phật Giáo, nên tôi rất trân quý những lời dạy của Đức Phật dù ngày nay tôi đã tiếp nhận Chúa Giê-xu là cứu Chúa của đời tôi. Sở dĩ tôi đầu phục Thiên Chúa là vì Kinh Thánh có cho biết: "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình.." (ê-phê-sô 2:8-9)
    Ngày nay, dù tôi chưa bao giờ dám có ý nghĩ là mình sẽ trở thành mục sư, hay một nhà truyền đạo, nhưng tôi rất ham thích làm những công việc đúng nghĩa mà các tôi tớ, con cái Chúa chân chính thường làm là: Rao giảng tin mừng của Chúa, để mọi người biết đó là niềm hạnh phúc thật, là sự cứu rỗi, sự bình an dành cho những ai nhận biết mình là con người yếu đuối bất toàn và thật sự muốn tìm kiếm quyền năng của Ngài. Chính vì biết trân quý về lời dạy của Đức Phật và hiểu được sự cứu rổi của Chúa Giê-xu như đã nói, nên tôi thấy mình rất tâm đắc về lời thố lộ của một người từng tu đến chức Đại Đức Phật Giáo, người ấy được Thi Sĩ Bùi Giáng giới thiệu quyển Kinh Thánh, ông đã đọc và đã tin Chúa. Trong quyển "Ai Chết Cho Ai, Ai sống Cho Ai" trang 57, mà ông chính ông là tác giả. ông Nguyễn Huệ Nhật đã viết như sau: "Với tâm trạng của một con người bình thường, tôi rất yêu đạo Phật, những gì tôi học được trong đó đều là vô cùng quý báu, vì nhờ hiểu biết phần nào về Phật Giáo mà hôm nay tôi dứt khoát đến với Chúa hơn..."

    Qua lời dạy của Đức Phật và các tôn giáo khác trên thế gian, nếu có ai nghĩ rằng tự mình có thể "ăn hiền, ở lành, tu nhơn, tích đức, tu tâm dưỡng tánh, diệt được tham sân si, hỉ, n, ái, ố..." tôi xin chúc mừng. Còn nếu những ai mà trong tận đáy lòng mình, vẫn còn cảm nhận được sự yếu kém về con người thật của mình, liên quan đến các điều sau đây: "đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cải lẫy, dối trá, giận dữ; hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ, dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót...." (Rô-ma 1:29-31) thì hãy đầu phục Chúa Giê-xu để được cứu: "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài..". (Giăng 1:12). Đặc biệt những ai đang đọc bài viết nầy trong thời điểm mà lòng mình đầy những buồn lo, chán chường, sợ hải, hoặc ghê tởm một điều gì... Nói một cách khác là mình đang trong tâm trạng: "trong héo, ngoài tươi", xin chớ bối rối, nản lòng. Tôi xin trân trọng mời quý vị hãy đến với Chúa Giê-xu như lời kêu gọi của Ngài: "Hởi những kẻ mệt mõi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ..." .


    Huỳnh Quốc Bình


    kimngoc87 thích bài này.

Chia sẻ trang này