Như Trâu ... Lời mở đầu: Một quang cảnh thường thấy trong sinh thái người dân Việt là: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa” Trâu kéo cầy dưới ruộng, trâu kéo gỗ trên rừng, trâu kéo xe trên đường lộ… A. Chuyện (như) Con Trâu Năm con trâu 2009 (“Kỷ Sửu”) sắp đến, giới viết lách (cả báo in và điện báo), theo như thông lệ, đã tốn khá nhiều giấy mực viết về con trâu… Nếu quí vị đã chán ngấy chuyện trâu thì có thể thong thả lật qua trang khác cho đỡ ngứa mắt; còn không thì … cùng nhau bàn chuyện trâu thêm một lần nữa nhé … Con trâu đối với dân Việt, nhất là nhà nông (có đến 80% dân số), đã một thời là một thành viên của gia đình, là của cải, là kế sinh nhai, là cứu cánh, là “đầu cơ nghiệp,” là hạnh phúc, là hiện tại, là hy vọng, là tương lai … tóm lại là tất cả những gì quí báu nhất của gia đình nhà nông. Hãy thử đọc lại cuốn “Con Trâu” của Trần Tiêu để thấy rằng gia đình nông thôn Việt Nam vật vã than khóc, xem sự việc một con trâu bị chết còn bi thảm hơn là chính bố mẹ, con cái trong gia đình bị chết … Vai trò quan trọng của con trâu đã rõ rệt … Nhưng Việt Nam ở thế kỷ 21 đã bắt đầu đánh dấu sự “lúng túng,” sự “lo lắng” là đàn trâu Việt Nam giảm số lượng quá nhanh (cả tỉnh Tiền Giang bây giờ, năm 2009, chỉ còn vỏn vẹn 377 con trâu ?) Nguyên do của sự gỉam số lượng trâu vì vấn đề cơ giới hóa trongviệc cày cấy và giết trâu làm thịt (vì thịt trâu ăn “mát” hơn thịt bò!) E rằng một ngày rất gần đây con trâu Việt Nam sẽ biến thành lọai động vật tương tự như “khủng long” của thời tiền sử và có lẽ sẽ chỉ còn thấy con trâu trong sách gíao khoa và viện bảo tàng! Các số lượng trâu bị biến mất dần dần sẽ xuất hiện đều đặn trong các báo cáo của ngành nông nghiệp trong các năm sắp đến! Hình ảnh quen thuộc thân yêu “con trâu đi trước cái cày” bao đời nay sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một nền nông nghiệp lạc hậu (!) của xứ sở nghèo đói (!) Trước mặt chúng ta, con trâu có rất nhiều viễn ảnh “khuất bóng;” nhưng những hình ảnh và biểu tượng văn hóa mà con trâu để lại có lẽ sẽ mãi mãi trong tâm thức người dân Việt: từ tranh sơn mài đến bát phở; từ câu ca dao mộc mạc đến một bản tân nhạc giật gân được ưa chuộng, từ các địa danh “trâu” đến các chưyện huyền thọai “trâu”… Hình ảnh con trâu to kềng càng, đắt gía, hiền lành, khỏe mạnh, cần cù … được dân Việt sử dụng để làm tiêu chuẩn đủ lọai trong vấn đề mô tả, so sánh v..v... Tuần tự hãy xem: “Khỏe như trâu” Công việc đồng áng rất nặng nhọc đâu có dễ dàng như đi “shopping.” Ở ngoài ruộng, bùn lầy hay lún, chỉ có sức trâu dẻo dai mới có thể cày được ruộng sâu (“Ruộng sâu, Trâu nái.”) Nên biết là bò cũng có sức kéo mạnh nhưng chỉ có 7 món kéo trên mặt đất khô; còn ở ruộng có nhiều bùn lún, bò không kéo được đâu đấy nhé! “Ăn như trâu” Trâu to lớn làm việc nặng thì phải ăn nhiều mới có sức. Mà cũng tội nghiệp! Trâu chỉ gặm cỏ chứ có đòi hỏi cao lương mỹ vị gì đâu mà con người phải than thở! Chưa nói đến chuyện bây giờ các đồng cỏ cho trâu gặm đã được lấy đi để xây khách sạn 5 sao! Trâu muốn sống có lẽ phải ăn bo bo khoai độn? “Béo như trâu trương” Cái dáng kềnh càng bụng to của trâu bị người đời ví von chê bai. Tại sao kỳ cục vậy? Martin Luther King đã từng nói là: “Không thể phán xét con người qua hình dáng, mầu da; mà phải phán xét con người qua tư cách” mà lị. Con người hay con trâu thì cũng vậy thôi; có gi là khác biệt đâu? Có nhiều người tư cách còn kém xa con trâu mà lại không biết ngượng lên mặt che bai trâu! Ít ra trâu cũng là con vật bình dị, mộc mạc, không bon chen đi hút mỡ bụng hay bỏ món ăn cỏ hàng ngày để đổi (“diet”) qua ăn củ xả, lá lốt … hay thịt cá, mỡ chài …! “Đàn gẩy tai trâu” Rõ rệt là trâu bị hiểu lầm rât lớn ở cái tiết mục văn nghệ văn gừng này. Chẳng qua là trình độ thưởng thức âm nhạc của trâu rất cao. Người đời đã gẩy đàn dở ẹc mà lại muốn trâu khen là sao? Công lý ở đâu vậy? “Dai như trâu đái” Trâu bị bắt lao động suốt ngày không nghỉ ngơi; không cho đi buồng tắm thi chuyện xả súp bắp hơi lâu có gì mà phải ngạc nhiên. Ở Việt Nam bây giờ cứ vào làm việc cho hãng giầy “Nike” là biết ngay. 8 tiếng đồng hồ làm việc mà “xếp” chỉ cho đi đi đái có một bận thì trách trâu đái dai là chuyện “phản động!” “Cứt trâu để lâu hóa bùn” Câu nói này chẳng những đã thiếu khoa học mà cũng thiếu cả đạo đức (Chưa nói đến vấn đề chính trị - bất công và kỳ thị). Khoa học đã chứng minh chăm phần chăm là bất cứ cứt gì để lâu cũng dần dà hóa thành đất; hóa thành bùn cả; chả riêng gì cứt trâu! “Nói đến (cứt) trâu phải nghĩ đến (cứt) người” chứ! “Đầu trâu mặt ngựa” Vấn đề cho coi nhan sắc mà cho điểm tư cách này coi bộ hơi tế nhị đó nghe. Đẹp hay xấu là tùy nơi người đối diện (“Beauty is in the eye of the beholder!”) Cứ xấu trai là hổng lấy được vợ hay sao? Có người nào xấu đến nỗi phải ở giá đâu? Về khía cạnh nhan sắc, trâu không dám lên tiếng dùm cho ngựa; vì đó là đời tư của ngưa. Còn phần trâu, trâu mặc dù có cái mũi hơi to, sừng dài hơi quá khổ mà lại cong cong và sún vài cái răng cửa nhưng có trâu đực nào bị trâu cái chê xấu trai đâu mà con người phải cất công chê dùm … Rõ là rảnh hơi, rửng mỡ! Con người có tính tủn mủn nên cứ chê cho được việc vậy thôi. Còn lúc ví von là “vú sừng trâu” thì là “vú xấu” hay “vú đẹp?” Nói sao cũng đặng. B. Địa danh mang tên Trâu 1. Miền bắc: Khỏang thế kỷ 15, Trần Thế Pháp trong sách “Lĩnh Nam Chích Quái” (trích lược các chuyện kỳ lạ ở đất Lĩnh Nam – Đất lập quốc nguyên thủy của dân Việt) có ghi hai câu chuyện cổ, huyền sử về địa danh miền bắc Việt Nam liên quan đến con trâu như sau: “Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: ‘Cán rìu của người nát rồi,’ Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ. Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ. Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang (là huyện cực Tây của tỉnh Hưng Yên), vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm . Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới. Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn, nay là Hồ Tây , rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh,lạch.” -------- Thì ra cái vũng tên là “Trâm Đằm” ở tỉnh Hưng Yên có sự tích hẳn hoi; và “Hồ Tây” rất thơ mộng ở Hà Nội còn có một cái tên nguyên thủy là “Hồ Dâm Đàn” không có vẻ gì là thơ mộng cả! 2. Miền nam: Có một địa danh mang trên Trâu. Đó là “Kinh Đường Trâu.” Câu chuyện như sau: Địa phận (Huyện / Quận) Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long có một con kinh tên là “Kinh Đường Trâu.” Chuyện kể là khi xưa khu vực này có nuôi rất nhiều trâu. Trâu được lùa đi thành từng đàn cả ngàn con trên một con lộ bằng đất. Đường đất qua thời gian bị sức nặng của trâu đè xuống biến thành một con mương goi là muơng “đường trâu đi”. Dần dà, nườc chẩy soi mòn làm mương mở rộng lớn ra biến thành con kinh goi là “Kinh Đường Trâu.” C. Tuổi Sửu (Con Trâu): Nhân dịp tết Kỷ Sửu, tôi xin ghi lại đây (lượm trên NET) một vài đặc tính của người có tuổi con trâu. Xin mời đọc cho biết rồi bỏ vì tôi thấy chỉ có giá trị tương đối thôi: Mặc dầu chậm chạp cứng chắc như thế, tuổi Trâu không phải là con bò sữa ngoài đồng. Con vật khỏe mạnh nầy sinh ra đã là bậc lãnh đạo, đáng tin cẩn, và có khả năng tự nhiên làm nên việc lớn. Dầu vậy, tuổi Trâu chậm chạp và nguyên tắc - theo những dự toán từng bước một và không hề mất hướng. Thiên hạ thấy tuổi Trâu quá nghiêm khắc và khó nới nẩm. Phẩm tính bền chặt tự nhiên làm mất tình xả giao và trở thành ngượng ngập giữa đám đông. Tuổi nầy không màng tới người khác suy nghĩ ra sao mà chỉ thích làm điều gì họ nghĩ là tốt cho họ. Tuy làm mặt lạnh nhưng tuổi Trâu cũng không tránh khỏi chịu đau lòng, cô đơn, và mất thân ái với người khác. Bạn bè và gia đình là nguồn an ủi lớn lao cho tuổi này, ngay cả khi gia đình họ cũng không hiểu họ đã làm gì cho tuổi Trâu nổi sùng nữa. Cứng đầu và độc đoán, tuổi Trâu có khuynh hướng càn lên, xông xáo, không biết thối lui. Nếu tuổi nầy bị dồn ép vào chân tường thì có nước là đất cũng phải rung chuyển theo! Nói tóm tắt là tuổi Trâu không quan tâm đến chuyện bị dồn đẩy lắm, bởi vì tuổi nầy nghĩ là họ là người tốt trong thiên hạ. Lý thuyết nầy cũng đúng, bởi lẻ tuổi Trâu thông minh, đáng tin cậy, lo cho người, và đáng kính. Nếu bạn cần lời khuyên chân thật, thẳng thắn và không thiên vị thì cứ hỏi tuổi Trâu. Cái khó nhất cho tuổi Trâu là làm sao khắc phục mình khỏi phải tật thiên kiến đã khiến họ khó làm thân với người khác. Nếu tuổi nầy biết đánh giá những phẩm tính tốt của riêng mình, họ sẽ mở rộng tấm lòng ra để đón tha nhân vào. Hạp: Tuổi Sửu hạp với tuổi Tỵ (con Rắn) và tuổi Dậu (con Gà). Xung: Tuổi Sửu khắc / kỵ tuổi Thìn (con Rồng) , tuổi Mùi (con Dê) và tuổi Tuất (con Chó). Trần Văn Giang (Tết Kỷ Sửu 2009)
HÌNH ẢNH CON TRÂU TRONG CA DAO VIỆT NAM Là một đất nước nông nghiệp còn lạc hậu , hình ảnh đồng quê với những đồng lúa xanh rờn ,những cánh cò trắng bay lơi lả , bác nông dân một nắng hai sương bên con trâu đi cày là hình ảnh đã đi vào ca dao tục ngữ Việt Nam Đọc ca dao Việt Nam , chúng ta bắt gặp hình ảnh con trâu xuất hiện rất nhiều trong đời sống người làm nông từ việc cha ông răn dạy con cháu đến những câu đối đáp của những đôi lứa đang yêu. Ở nông thôn xưa , lúc nông nhàn có anh nông dân chưa vợ , phải lòng cô thôn nữ . Sau nhiều ngày theo đuổi , anh than thở Ai nói chăn trâu là khổ Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu .Cô nàng còn e thẹn nên mới thử lòng anh nông dân nghèo Anh về bán ruộng cây da Bán cặp trâu già mới cưới đặng em Đối với anh nông dân thì ruộng lúa và cặp trâu cho dù là trâu già vẫn là tất cả gia nghiệp của mình.Những tưởng rằng anh chàng sẽ thối lui , ai ngờ Một rằng mình quyết lấy ta Ta về bán cửa bán nhà mà đi Ta về bán núi Ba Vì Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu Ta về bán hết ngựa trâu Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung Bán ba mươi sáu Thổ công Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân Bán từ giờ Ngọ giờ Dần Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi Ta về bán cả que cời Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn Ta về bán trống bán kèn Có gì bán hết, lấy tiền cưới emỞ những câu ca dao khác , có chàng trai không gặp may mắn vì chậm chân nên than thở Công anh chăn nghé đã lâu Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?Khi đã nên duyên chồng vợ , thì hình ảnh con trâu lại càng đậm nét hơn trong cuộc sống gia đình tại nông thôn Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằmAnh nông dân dắt trâu ra đồng , vừa đi vừa thủ thỉ chuyện trò như là tâm sự với một người bạn đường hằng ngày vẫn cùng anh một nắng hai sương ngoài đồng ruộng . Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cấy cày giữ nghiệp nông gia. Ta đây trâu đấy, ai mà quản công! Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.Nghĩa vợ chồng theo phong tục Á Đông là “ chung thủy đến răng long đầu bạc” và cha ông ta cũng đã ví von Trăm năm còn có gì đâu Miếng trầu liền với con trâu một vầnPhải chăng hình ảnh con trâu ngày đêm làm việc bên cạnh bác nông dân là một ví von cho lòng chung thủy một dạ sắt son của đôi vợ chồng ? Đời sống nông thôn ngày xưa với nhịp sống êm ả đã được cha ông ta mô tả qua câu ca dao Tháng giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà Tháng ba thì đậu đã già Ta đi ta hái về nhà phơi khô Tháng tư đi tậu trâu bò Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…Đời sống thanh bình và êm ả đó đã hun đúc lên hình tượng những người nông dân hiền lành chất phác và gái trai trong làng lớn lên trong cái mẫu số chung ấy Trai thì cày ruộng khiển trâu Gái thì phải biết bổ cau têm trầuHình ảnh con trâu còn được ông cha sử dụng để răn dạy điều hay lẽ phải trong đời Lộn con toán bán con trâuhay Ðàn đâu mà gảy tai trâu Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồiHay như lúc khuyên răn con cháu nên siêng năng cần cù lao động Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu. Ở đời khôn khéo chi đâu, Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.Các cụ cũng không quên khuyên dạy con cháu giữ lề thói gia phong truyền thống của tổ tiên Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơmĐể cháu con nên người , cha ông còn dùng ca dao để răn dạy con cháu sau khi rút tỉa những kinh nghiệm dân gian Bé ăn trộm gà Già ăn trộm trâu Lâu nữa làm giặcKhi con gái quê bước về nhà chồng , mẹ già nông thôn dặn dò dạy dỗ Chồng dữ thì em mới rầu Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừngĐời sống tại nông thôn xưa với bao nhiêu là khó khăn thiếu thốn , ngoài những việc thường tình , con trâu lại đứng đầu trong những nổi khó khăn , là một gia tài to tát đè nặng âu lo lên phận đời của bác nông dân Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà Cả ba việc ấy đều là khó thay.Đã biết là khó và khi đã thực hiện phải hết sức cẩn trọng nhưng làm sao tránh được sự may rủi , nếu chẳng may “vợ dại , trâu chậm ,rựa cùn” thì cơ cực trăm bề Thứ nhất vợ dại trong nhà, Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn. Và bác nông dân đành an ủi mình Vợ dại thì đẻ con khôn, Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.có người thì tỏ vẻ lý sự trước sự đã rồi để tìm phương giải quyết Trâu chậm thời anh bán đi, Dao cùn đánh lại , vợ thì làm sao ? Để chế giểu thói đời , ông cha còn sử dụng một hình ảnh rất đỗi quen thuộc tại đồng quê mà ai cũng thường nhìn thấy : Trâu buộc thì ghét trâu ăn, Quan võ thì ghét quan văn dài quần.Hay Trâu kia kén cỏ bờ ao, Anh kia không vợ đời nào có con.Đôi lúc để biếm chuyện vợ chồng không xứng lứa vừa đôi ,ông bà cũng không ngần ngại ví von Con vợ khôn lấy thằng chồng dại Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâuVà cả những việc rất đời thường , những kinh nghiệm dân gian nghe ra rất thôn quê , nó toát lên cái hình ảnh thanh bình và chất phác của đời sống nông thôn Việt Nam Lạc đường nắm đuôi chó Lạc ngõ nắm đuôi trâuNgày nay , đất nước đang phát triển ,những nhà máy mọc lên trên những cánh đồng xưa rồi những sân golf càng ngày càng lấn dần những cánh đồng xanh mướt .Đời sống bác nông dân cũng dần dà thay đổi . Tuy nhiên trước sự đổi thay từng ngày ấy , len lỏi trong lòng chúng ta một chút gì đó tiếc nuối cuộc sống thôn làng thanh bình yên ả ngày xưa . Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày Ai ơi! bưng bát cơm đầy Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng? Mùa xuân Kỷ Sửu 2009 LÊ CÔNG ĐỨC